“Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân (giải thích
phía sau)
Bước lên xe đầu đội khăn rằn
Nói năng đúng điệu, tảo tần bán buôn”
Ở miền Tây có một làng nghề dệt khăn rằn nổi tiếng hàng trăm năm qua. Đó là làng nghề dệt choàng Long Khánh ở huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp quê tôi, Qua nhiều thăng trầm của thời gian, những nghệ nhân không chỉ giữ nghề, mà còn đưa những chiếc khăn vươn mình trở thành món quà ý nghĩa không thể thiếu cho mỗi du khách khi trở về sau chuyến tham quan Miền Tây sông nước. -
Ưu điểm của chiếc khăn rằn: bền chắc, mẫu mã đẹp, bắt mắt, thấm hút cao, lại nhanh khô phù hợp khí hậu nắng nóng Nam Bộ. Bên cạnh nét đẹp thẩm mĩ, khăn còn có nhiều tiện ích, thông dụng như: quàng trên đầu để che nắng, che sương, choàng cổ nên còn gọi “khăn choàng” (người miền Tây gọi lệch là “khăn chàng”, quấn ngang trán để thấm mồ hôi khi lao động. Rồi để người con gái cột lỏng khăn quanh cổ, thả hai đầu khăn dài xuống ngực, để khi làm mệt tiện tay dùng khăn lau mồ hôi hay choàng vai cho ấm. Khăn rằn còn được “biến tấu” thành giỏ xách đựng đồ như hình dáng một tay nải, hoặc đơn giản là phụ kiện làm đẹp đi cùng với trang phục áo bà ba. Khăn không chỉ gắn bó mật thiết với người dân lao động lam lũ, mà cả những điền chủ, người giàu có, người lớn, trẻ em cũng sử dụng loại khăn này. Cư dân vùng sông nước sử dụng khăn rằn khi tắm, quấn như sà rông để thay đồ khi ở trên ghe nên gọi “khăn chàng tắm”. Dù có nhiều tên gọi nhưng phổ biến nhất là “khăn rằn Nam Bộ”.
Ngày nay, khăn rằn còn là món quà ý nghĩa của tỉnh dành tặng cho thầy cô về giảng dạy tại tỉnh Đồng Tháp, là món quà mà khách du lịch đến tham quan miền tây làm kỷ niệm, hoặc tặng cho bạn bè, khăn rằn còn theo chân các bạn trẻ đi phượt khắp mọi miên Tổ Quốc, cũng được xem là món trang sức cho các chị em khi tham gia " về nguồn", các hội diễn văn nghệ, hội thao...
KHĂN rằn - nét vă hóa rất riêng của người Nam Bộ
Nói đến vùng đất Miền Tây Nam Bộ, không thể không nhắc đến chiếc
khăn rằn, biểu tượng đồng hành qua bao tháng năm với người dân nơi đây. Khăn
rằn được ông bà xưa sử dụng phổ biến trong đời sống lao động, sinh hoạt hàng
ngày. Qua thời gian, chiếc khăn rằn đã trở thành nét đẹp văn hóa trong trang
phục của người dân miền sông nước. Nếu có dịp du lịch Miền Tây, ở bất cứ nơi đâu ta
có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những chiếc khăn rằn truyền thống được các bà,
các mẹ, các chị đeo lên cổ hay quấn lên đầu.
Vậy
chiếc khăn rằn Nam Bộ có từ bao giờ? Điều này chưa có nhà nghiên cứu nào khẳng
định chính xác là có từ lúc nào, chỉ biết từ lâu chiếc khăn rằn đã trở thành
vật không thể thiếu của người dân vùng đất phương Nam.
Nhưng theo lời
của những bậc cao niên thì chiếc khăn rằn Nam Bộ bắt nguồn từ khăn krama của
người Khmer, Năm 1558, cuộc di dân mở mang bờ cõi của chúa Tiên - Nguyễn Hoàng – người đặt nền móng đầu tiên cho
vương triều Nguyễn vào phía Nam dãy Hoành Sơn, vùng đất Thuận Hóa (Quảng Trị) ,
người ta đã thấy người Khmer, người Chăm đội những chiếc khăn quấn thành vòng trên đầu.
Rồi trong quá trình chung sống ở Nam Bộ, hòa nhập giữa các dân tộc Kinh, Hoa,
Khmer, Chăm…, nhờ sự giao thoa văn hóa, chiếc khăn của người Khmer dần trở nên
phổ biến, được thay đổi cho phù hợp, gần gũi và gắn liền với người dân miền
sông nước Nam Bộ.
Khăn
thường có hai màu trắng – đen… Hai màu này tạo thành những họa tiết ô vuông nhỏ
đan xen nhau, chạy dọc, chạy ngang khắp mặt khăn, và có lẽ chính các lằn ngang
dọc này mà có tên gọi khăn rằn. Chiếc khăn rằn có chiều dài khoảng 1,2 m, rộng
chừng 40 – 60 cm, không cầu kỳ, sặc sỡ mà rất đỗi bình dị, giản đơn.
Lúc đầu, khăn rằn
dệt thủ công bằng tay, nên tạo họa tiết caro (là họa tiết đơn giản, dễ dệt
nhất), về sau, bên cạnh dệt thủ công, đã xuất hiện những khung dệt máy. Ngoài 2
màu sắc trắng – đen truyền thống thì khăn ngày nay còn được dệt phối bằng những
màu lạ mắt, tinh tế như: Hồng – trắng, đen – đỏ, xanh – hồng… Không chỉ vậy,
tùy theo thị hiếu người dùng, sản phẩm mới có nhiều kích thước, được đan dày
hơn (2 lớp), 2 đầu khăn được thắt tếch để hợp thời trang…tuy nhiên, họa tiết
caro truyền thống vẫn được bảo lưu và chiếm vị trí độc tôn cho đến nay.
Chiếc Khăn rằn trong cuộc
kháng chiến cứu nước:
“ Em
ra đi khi gà chưa gọi sáng
Trăng
mùng mười gòn giỡn ước giữa đầm sen
Chiếc
sào nặng thân quen
Cơm gói
mo cau, khă rằn quấn cổ:
Khăn
rằn đã kiên cường đồng hành cùng các chiến sĩ giải phóng quân trên khắp các nẻo
đường hành quân diệt thù, bảo vệ Tổ quốc. Khăn che mưa, che nắng, thắm giọt mồ
hôi, gói đựng ít đồ dùng cá nhân, băng bó vết thương, khăn như lời động viên
tiếp thêm sức mạnh lập bao chiến công vang dội, khăn đầy gần gũi yêu thương
luôn cùng các các má, các chị, các “o du kích”… mở đường, phá bom, từ căn cứ ra
chiến trường, là món quà mẹ tặng tiễn chồng, con ra chiến khu, là kỷ vật thân
thiết mà các đồng đội gửi tặng cho nhau bên chiến hào, là lời hẹn ước, kể cả để
lau khô dòng nước mắt hay giấu đi một nụ cười
Trong phong trào
Đồng Khởi, đội quân tóc dài với chiếc áo bà ba và cái khăn rằn đã bao bao phen
gây khiếp đảm cho quân thù “áo bà ba khăn rằn tay không bắt giặc”, khăn là
“đồng đội” được sử dụng như một ám hiệu trong chiến đấu, là vật đánh dấu “phe
mình”. Chiếc khăn rằn cùng chiếc áo bà ba đã trở thành hình ảnh gần gũi với mọi
người, làm nên đặc điểm trang phục của người dân Nam Bộ. Cụ thể hơn, nó là biểu
tượng cho người phụ nữ Miền Tây cần cù, mộc mạc mà duyên dáng, cũng như những
tấm lòng chân tình, nồng hậu của con người đất phương Nam.
Trải
qua bao thế hệ, chiếc khăn rằn Nam Bộ xưa nay vẫn mãi là hình ảnh thân quen gần
gũi với người dân miền quê vùng sông nước Nam Bộ, đây chính là nét đẹp văn hóa
sâu sắc in đậm trong tiềm thức của người dân vùng đất phương Nam, đặc biệt là
miền Tây Nam Bộ. Việc gìn giữ nét đẹp truyền thống văn hóa của ông cha – văn
hóa khăn rằn, để tiếp tục lưu truyền cho các thế hệ sau là một điều hết sức có
ý nghĩa, góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức của xã hội đối với việc bảo tồn
và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong trong cuộc sống hôm nay và mai
sau.
Giải thích: Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân, (bảnh có nghĩa là đẹp, có giá) khi nhắc tới con gái Nha Mân, người ta nhớ lại chặng đường bôn ba của Nguyễn Ánh, khi ông chạy vào miền Nam tránh quân Tây Sơn truy đuổi, trước khi ra Phú QUốc, ông đã để lại nhiều tì thiếp ở lại khu vực này!
Bạn cần đăng nhập để tham gia bình luận
Đăng nhập